Công nghệ
thông tin - truyền thông Việt Nam:
Thời
cơ Vận hội và con đường rút ngắn khoảng cách LTS: Xuân Mới 2005, Báo BĐVN trân trọng giới thiệu bài viết của Bộ trưởng Bộ BCVT Đỗ Trung Tá về chiến lược ứng dụng CNTT-TT ở Việt Nam.
Cách mạng CNTT-TT: động lực quan trọng nhất của sự phát triển Công nghệ thông tin (CNTT) đang phát triển rất mạnh mẽ. Đặc trưng và tác nhân quan trọng của cuộc cách mạng CNTT-TT là khả năng xử lý thông tin đang phát triển mạnh theo hàm số mũ. Từ
năm 1970, quy luật số bán dẫn trên một bảng vi mạch tăng gấp đôi sau 18 tháng hầu như không thay đổi. Để đạt được 1 tỷ người sử dụng điện thoại, trước đây cần 100 năm, nhưng ngày nay chỉ cần 20 năm thế giới đã có 2 tỷ người sử dụng Internet (năm 2005). Về viễn thông, thông tin truyền qua một đường cáp đơn
trong vòng 1 giây vào năm 2001 nhiều hơn dung lượng truyền qua Internet trong vòng 1 tháng vào năm 1997. Chi phí để truyền 1.000 tỷ bit thông tin từ Boston tới Los Angeles giảm từ 150.000 USD năm 1997, ngày nay xuống còn 12 cent. Doanh số dịch vụ viễn thông tăng mạnh, đặc biệt là ĐTDĐ. Băng thông rộng cùng các dịch vụ đa phương tiện phát triển mạnh cả về quy mô lẫn chất lượng với tốc độ còn nhanh hơn cả ĐTDĐ trong giai đoạn phát triển ban đầu.
Công nghệ không dây đang tạo ra cuộc cách mạng truy cập thông tin và tri thức cho mọi người, đặc biệt cho nông thôn và vùng sâu, vùng xa. CNTT-TT đang tạo ra môi trường thuận lợi cho một xã hội mạng, trong đó mọi người có thể truy cập trao đổi, khai thác thông tin, tri thức mọi nơi, mọi lúc. ứng dụng và phát triển CNTT-TT là động lực có ý nghĩa quyết định để phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao hiệu suất lao động, sử dụng tốt hơn nguồn lực, thu hút vốn đầu tư, nâng cao năng lực và chất lượng sống cho mọi người dân. CNTT-TT, mạng Internet đã làm cho khoảng cách trên thế giới ngày càng trở nên nhỏ bé. Tri thức và thông tin không biên giới đưa hoạt động kinh tế vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và trở thành hoạt động mang tính toàn cầu. Ngay từ những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỉ 20, trong lúc nền kinh tế của Việt Nam còn chậm phát triển, mạng viễn thông hoàn toàn analog và rất lạc hậu, Việt Nam đã quyết định đi thẳng vào kỹ thuật số thông qua con đường mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, tiếp thu công nghệ mới để phát triển và mở rộng mạng viễn thông, đồng thời đào tạo nguồn nhân lực tương ứng. Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được mạng viễn thông rộng khắp có công nghệ hiện đại. Theo thống kê của ITU, trong giai đoạn 1998-2003, tăng trưởng thuê bao điện thoại cố định của Việt Nam (20,3%) cao hơn nhiều so với mức trung bình của ASEAN (8,9%) và trong giai đoạn 2001-2003 tốc độ tăng trưởng mật độ người sử dụng Internet của Việt Nam (123,4%/năm) cao nhất trong khu vực ASEAN+3. ứng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quyết định cho sự phát triển của một số ngành kinh tế trọng yếu như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, du lịch, viễn thông, hàng không... Khoảng 50% doanh nghiệp đã ứng dụng CNTT vào quản lý sản xuất kinh doanh và dịch vụ. Trên 30% doanh nghiệp có kết nối Internet, 10% có trang Web để phục vụ kinh doanh, tiếp thị trong nước và quốc tế. ứng dụng CNTT đã tương đối phổ biến trong hệ thống các cơ quan Đảng, Quốc hội, Chính phủ, tại một số địa phương, trong quốc phòng và an ninh. Hơn 50% bộ, ngành và hơn 80% tỉnh, thành phố trực thuộc đã có trang Web, hàng chục tờ báo điện tử và trang tin điện tử đang góp phần đáng kể vào công tác thông tin, tuyên truyền và đối ngoại.
Công nghiệp CNTT-TT Việt Nam phát triển với tốc độ trung bình 25% năm và tổng giá trị công nghiệp CNTT-TT năm 2003 vào khoảng 1,65 tỷ USD. Công nghiệp nội dung thông tin đang hình thành và phát triển, phục vụ ngày càng có hiệu quả mọi đối tượng trong nhân dân.
Đào tạo nguồn nhân lực CNTT-TT đã có những chuyển biến tích cực, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động với tỷ lệ lao động tri thức ngày càng cao. Tính đến năm 2004 đã có 62 cơ sở bậc đại học, 101 cơ sở bậc cao đẳng, 108 cơ sở bậc trung học chuyên nghiệp thực hiện đào tạo chính qui về CNTT và TT và 69 cơ sở đào tạo phi chính qui ở các trình độ khác nhau. Những kết quả ban đầu đạt được trong hoàn cảnh kinh tế của nước ta trong giai đoạn chuyển đổi và còn ở mức thấp đã được các chuyên gia quốc tế đánh giá cao.
Các đánh giá khác về Công nghệ thông tin - truyền thông Việt Nam: